Được hỗ trợ bởi Dịch

KIỂM SOÁT MÔI TRƯỜNG TRONG THỬ NGHIỆM ĐỘ VÔ KHUẨN

      Đối với ngành sản xuất Dược phẩm, kiểm soát chất lượng thành phẩm là cực kỳ quan trọng, đòi hỏi việc xây dựng, thẩm định và thực hiện phương pháp thử nghiệm khắt khe sao cho tối thiểu nguy cơ cho sức khỏe cộng đồng. Thử nghiệm Độ vô khuẩn cho các mẫu thuốc tiêm, dịch truyền, thuốc nhỏ mắt… là bước quyết định để đảm bảo Dược phẩm không tồn tại những hạt vi sinh và an toàn cho người sử dụng.

      Vấn đề lớn gặp phải khi thực hiện thử nghiệm Độ vô khuẩn là vi sinh vật chỉ phát triển trong môi trường nuôi cấy và điều kiện thử nghiệm phù hợp. Vì vậy, phương pháp thử nghiệm khi được xây dựng ngoài việc thẩm định đánh giá cần phải xây dựng song song chương trình kiểm soát môi trường liên tục để đảm bảo kết quả thử nghiệm.

      Một vấn đề khác cần được lưu tâm, theo Dược Điển thử nghiệm Độ vô khuẩn cần thực hiện ở 02 môi trường: Fluid Thioglycollate medium (FTM) và Soybean Casein Digest Medium (SCD/TSB), ủ trong 14 ngày. Kết quả âm tính từ thử nghiệm là đại diện cho một lô, và khi có một kết quả dương tính, lô sản phẩm đó cũng phải được cách ly để rà soát lại một cách kỹ lưỡng tất cả các tác nhân gây nhiễm. Dẫn đến hao tốn rất lớn về mặt thời gian và chi phí.

      Đối diện với những vấn đề trên, làm thế nào các đơn vị có thể đảm bảo tính toàn vẹn của quá trình sản xuất Dược phẩm và giảm thiểu nguy cơ thất bại trong thử nghiệm Độ vô khuẩn? Để làm được như thế, quy trình cần bắt đầu từ việc thiết kế và thẩm định nhà máy và khu vực thực hiện thử nghiệm theo cấp sạch phù hợp, đào tạo nhân viên, đồng thời các quy trình vận hành thường quy và chương trình kiểm soát môi trường liên tục phải được cân nhắc kỹ lưỡng và ban hành.

Những bất cập trong thử nghiệm vô trùng

Thử nghiệm vô trùng vẫn là phương án kiểm soát chất lượng tốt nhất để đánh giá quy trình sản xuất vô trùng và độ an toàn về vi sinh của sản phẩm trước khi xuất ra thị trường. Tuy nhiên, về mặt đánh giá nguy cơ, thực sự chỉ nên được coi thử nghiệm này là bước đánh giá cuối cùng sau một loạt các quy trình đều đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu và xác định bất kỳ sự ô nhiễm nào trong quá trình sản phẩm dược phẩm.

Khi tiếp cận những vấn đề về đảm bảo chất lượng chẳng những cần cân nhắc đến những hạn chế của phương pháp thử Độ vô khuẩn như đã nêu phía trên mà còn có một vài trường hợp không thể thực hiện thử nghiệm do tính chất của thuốc và/hoặc nhu cầu cấp thiết của bệnh nhân.

Có thể lấy thuốc kê đơn làm một ví dụ. Nếu cần dùng thuốc trong vòng 14 ngày, thử nghiệm Độ vô khuẩn là không hợp lý vì mất tổng cộng 14 ngày để thực hiện. Đây cũng là tình huống ở các nhà thuốc bệnh viện và công ty Dược phẩm sản xuất theo các đơn đặt hàng gấp hoặc để bệnh nhân sử dụng ngay. Đối với những trường hợp trên, các công ty Dược cần cân nhắc đến những phương pháp thử nghiệm Độ vô khuẩn nhanh, nhưng vẫn đảm bảo độ chính cao.

Một trường hợp khác, đối với các thuốc kháng sinh, do bản chất kháng khuẩn nên sẽ gây ức chế sự phát triển của vi sinh vật dẫn tới kết quả thử nghiệm không có giá trị. Vì vậy, ngoài việc đảm bảo điều kiện sản xuất, thử nghiệm vô khuẩn để đảm bảo độ vô trùng của sản phẩm, khi thực hiện phép thử cần phải lựa chọn vật liệu màng lọc phù hợp, độ bám dính thấp như màng PVDF , đồng thời phối hợp các dung dịch rửa (fluid A, fluid K, fluid D) một cách phù hợp.

Giám sát môi trường sản xuất liên tục

      Giám sát môi trường liên tục giúp đảm bảo mức độ vi sinh vật trong toàn bộ cơ sở sản xuất. Việc nhiễm vi sinh vật có thể xuất phát từ một hoặc nhiều nguồn khác nhau. Thế nên, nếu thử nghiệm Độ vô khuẩn cho kết quả dương tính, dữ liệu từ quy trình giám sát môi trường hiệu quả có thể giúp định vị nguyên nhân nhanh chóng.

      Có một vài lưu ý để đảm bảo chương trình giám sát môi trường và thử nghiệm Độ vô khuẩn duy trì được tính an toàn của sản phẩm:

  • Cần tập trung vào việc thu nhận dữ liệu một cách nhất quán và chính xác nếu muốn xây dựng kế hoạch giảm thiểu rủi ro một cách hiệu quả.
  • Nên thực hiện giám sát liên tục để tối thiểu thời gian điều tra nguyên nhân nhờ xác định nhanh chóng khu vực có nguy cơ cao nhất và thực hiện những đánh giá tiếp theo nhắm đúng mục tiêu hơn.
  • Kiểm soát môi trường thường xuyên cần kết hợp nhiều kỹ thuật và phương án lấy mẫu như tiểu phân không khí, vi sinh không khí chủ động, vi sinh không khí thụ động bằng đặt đĩa, lấy mẫu bề mặt, găng tay bằng đĩa tiếp xúc hoặc que phết. Kể cả khí nén dùng trong khu vực sản xuất, đặc biệt là khi khí nén tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm cũng cần có kế hoạch kiểm soát phù hợp. Nhờ đó mà sẽ có dữ liệu cho việc giám sát hạt tiểu phân cả sống và không sống để xác định gốc rễ nguyên nhân ô nhiễm, giảm việc gián đoạn sản xuất.